
Tháng Năm 26, 2009
Chuyên mục: Logo, những điều cần biết . . Tác giả: phucquandesign . Phản hồi: Để lại phản hồi

1. Digital Art :
Như tên gọi của nó, “Nghệ thuật số”, những artworks (tác phẩm) thuộc mảng đề tài này buộc phải thông qua các thiết bị số, mà cụ thể nhất chính là cái computer chúng ta sử dụng hằng ngày. Chú ý rằng, ảnh phải thiên về tính nghệ thuật chứ không phải kỹ thuật. Chắc hẳn không quá khó để bắt gặp những cụm từ này :
- Digital Painting (Drawing) : tác phẩm được vẽ bằng công cụ máy tính, có thể bằng chuột, bằng màn hình chạm hoặc phổ biến là wacom hay tablet. (bàn vẽ). Công cụ : Photoshop và các soft bitmap….. Manga/Anime – Cartoon cũng thuộc mảng này.
- Vector & Vexel : được tạo ra từ các phần mềm vẽ theo định dạng vector. Tác phẩm thường là những mảng, nét màu được bố cục lại để tạo nên một ảnh hoàn chỉnh. Công cụ : Corel, AI….
- 3 Demensinal : là ảnh 3D đó mà, tác phẩm được computer tính toán ánh sáng, độ dày và bề mặt….việc của chúng ta là dựng hình và áp dụng các thông số lên hình để computer có thể xử lý. Công cụ : 3DSMax, Maya. C4D….
- Photo Manipulation : quá quen với thể loại này rồi nhỉ. Tác phẩm là sự cắt ghép xử lý từ những ảnh đơn lẻ, sau đó “vận” hết “nội công” của Photoshop để tạo ra một loại hình siêu thực tế. Blend hình cũng nằm trong thể loại này.
- Typography : hay còn gọi là “nghệ thuật chữ”. Chữ cũng có cái chất “đồ họa” của nó. Bằng việc sắp xếp, tinh chỉnh nét chữ, dộ dày mỏng, transform chữ,.v.v….tạo ra một tác phẩm đồ họa thật sự. (Soft nào cũng được)
- Fractal Art : đây là một dạng nghệ thuật trừu tượng. Trong tiếng anh “fractal” nghĩa là “phân dạng” hoặc “đứt gãy” trong tiếng Latin. Sẽ khó mà có thể giải thích đầy đủ ý nghĩa của Fractal Art, nhưng có thể hiểu đơn giản : đây là một loại hình học có sự lặp lại đồng dạng ở nhiều tỉ lệ khác nhau được gấp khúc thành một dạng hình học. Sự lặp lại này có vô tận các chi tiết, nghĩa là càng có khả năng phóng lớn một khu vực nào đó thì càng xuất hiện nhiều chi tiết hơn. Software : Ultra Fractal,…
Trích dẫn từ Vietphotoshop
I/ KHÁI QUÁT.
A/ Khái niệm:
+ Chưa xác định chính xác nguồn gốc và xuất xứ nhưng xuất hiện tự lâu với những hình thức sơ khai từ khi bắt đầu có trao đổi vật dụng giữa các bộ lạc, đồ gốm làm các dấu hiệu riêng vào các hình và lọ gồm.
+ Khi nhu cầu xã hội phát triển và phổ biến rộng rãi dưới thời đế chế, phong kiến, các vương quyền, lãnh chúa và các tổ chức xã hội đưa ra một hình ảnh biểu trưng cho quyền lực của mình là hình htức như quốc huy hiện nay.
+ Phát triển khi nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển.
+ Thuật ngữ Logo du nhập vào Việt Nam từ năm 1980:
- Tiếng Pháp: Symbole.
- Tiếng Anh: Symbol.
+ Nghĩa là biểu tượng và biểu trưng hoặc một tín hiệu thị giác – dấu hiệu thị giác gọi chung là Logo.
+ Logo có được là do sự sáng tác làm dấu hiệu riêng cho một đơn vị, cơ sở, đoàn thể, công ty hoặc cá nhân.
+ Là dấu hiệu nêu được đặc trưng của đơn vị về sản phẩm, tinh thần của công ty.
+ Được tinh lọc cực kỳ đơn giản, dễ nhìn, dễ nhớ, dễ vẻ lại.
+ Có tính chất như một dấu hiệu riêng cực kỳ đơn giản, tốt đẹp không bị nhầm lẫn khi xâm nhập vào đời sống xã hội.
B/ Định nghĩa:
+ Logo còn gọi là Logo Type – nghệ thuật sáng tác Logo.
+ Là một tín hiệu thị giác hay là cách tạo hình tên một công ty, một tổ chức với những thuộc tính đặc trưng nhất, mộthình ảnh tỉnh lọc đơn giản nhất để dễ nhận biết về một đơn vị, một cơ quan, một tổ chức xã hội nào đó khẳng định bản quyền của đơn vị, cơ quan tổ chức xã hội đối với sản phẩm biểu trưng của mình.
C/ Đặc điểm:
+ Tính khái quát cực cao bằng tượng trưng qua sự tỉnh lọc.
+ Tính thẩm mỹ.
+ Tính độc đáo, tính sáng tạo.
+ Tính dễ nhớ.
d/ Hình thức:
+ Logo hình, không có chữ.
+ Logo hình có chữ
+ Logo chữ.
Những nguyên tắc cần thiết trong thiết kế Logo
A/ Nguyên tắc cấu tạo:
1. Đường nét:
- Các đường nét tạo nên các kiểu trang trí, biểu tượng, hình ảnh.
- Phải được sử dụng, bố trí một cách khôn khéo để truyền đạt thông điệp minh bạch.
- Mỗi đường nét sử dụng phải được bố trí hoàn hảo tạo nên mẫu vẻ hiệu quả nhất.
- Các đường gợn sóng gợi nên chuyển động dùng mô tả các hoạt động hay sản phẩm liên quan đến hàng hải.
- Các đường lan tỏa ám chỉ tia sáng mặt trời hoặc các chức năng tích cực, các chuyển động trực tiếp.
- Các đường lan tỏa cũng có thể ám chỉ chuyển động như nan hoa của bánh xe liên tưởn sự tiến nhanh của công ty.
- Có thể sáng tạo đường nét để đem lại sự đối xứng, tương phản, tiêu điểm, sự xoay, phản chiếu, chuyển động.
- Có thể sáng tạo bằng tay hay dụng cụ như Compa, cọ, bút chì.
- Có thể được vẽ với sự trau chuốt, nét đặc, nét gãy, chiều nganh, chiều dọc, chiều chéo hay tự do gợi cảm giác uốn lượn, tiến triển, phối cảnh hoặc nhịp điệu thông thường.
- Sử dụng để thể hiện một vật thể hay một ngụ ý quan trọng.
- Đảm bảo kết nối các đường nét khác nhau trong một logo một cách dung hòa.
- Các đường nét phải được tạo ra theo một phong cách chặt chẽ để tạo nên các hình khối và họa tiết cân xứng.
Ví dụ:
2. Không gian:
- Đóng vai trò rất quan trọng ảnh hưởng đến toàn bộ mẫu thiết kế.
- Một logo được giới hạn về hình thức: kích thước và không gian, phải bố trí cho tất cả các thành phần của mẫu vẽ nằm trong một không gian giới hạn những phải phát huy tối đa tính thẩm mỹ, ngụ ý, tính biểu trưng cho hình ảnh công ty.
- Các hình tượng phải bố trí có không gian xung quanh chúng.
- Các khối hình học phải nổi bật so với không gian xung quanh.
- Tránh nhồi nhét, rối rắm trong mẫu thiết kế.
- Có những khoảng tối – âm, sáng – dương trong một logo.
- Các hình khối, không gian được kết hợp thà một khối rõ ràng, không gây cảm giác mù mờ.
3. Bố cục:
- Gọn gàng.
- Hình thể đơn giản, khúc chiết.
- Đường nét, diện mảng, màu sắc phải cô đọng, không rối rắm.
4. Hình thức: phong phú.
- Hình tròn.
- Hình vuông.
- HÌnh chữ nhật, thoi, tam giác.
- Một đường thẳng, một nét nhấn trong một dòng chữ.
- Một đường cong hay một hình thể tự do.
5. Màu sắc:
Yêu cầu:
- Hài hòa: Yếu tố tương phản, các màu cực mạnh (tạo tông màu mạnh), sự liên tưởng mạnh, các màu trugn gian (tao nhã), màu pha trộn dẫn đến nhẹ nhàng.
- Tiết giản đến tối đa tránh sử dụng quá nhiều màu, rối rắm, lấn lướt hình tượng dẫn đến khó năm bắt được thông tin từ Logo.
- Các công ty thường đòi hỏi tối đa không quá 3 màu – một màu là tốt nhất, thuận lợi cho việc quảng cáo và in ấn.
- Phải tạo ra được màu sắc cố định.
- Tạo thành một dấu hiệu nhận biết.
- Liên quan mật thiết đến nền.
Ví dụ:

+ Logo Coca Cola có đường chỉ đỏ trắng hai màu, khi quảng cáo sử dụng hai màu đỏ trắng, thêm một đường chỉ thì người ta nhận biết đó là sản phẩm của Cocacola.
B/ Quy luật căn bản.
1. Sự tối giản.
- Yêu cầu lược bỏ tối đa, gạn lọc đến cùng các yếu tố tạo hình chỉ để lại những gì đơn giản nhất, tinh túy nhất.
- Cô đọng, xúc tích về ý nghĩa để dễ nhận biết, dễ phân biệt, gây ấn tượng sâu, mạnh, tiện lợi cho việc sử dụng.
2. Sự cân bằng.
- Mỗi thành phần của mẫu vẽ đều cần có nhau để đạt được trạng thái cân bằng, đồng nhất theo quy luật đối xứng, bất đối xứng.
- Đảm bảo hai khía cạnh:
+ Các hình khối, đường nét, khoảng cách được ghép nối một cách tinh tế cân bằng.
+ Yếu tố tĩnh – âm, động – dương.
3.Tỷ lệ.
- Khảo sát, nghiên cứu tỷ lệ rất quan trọng trong thiết kế.
- Sử dụng thích ứng các hình khối, khuôn khổ liên quan với nhau.
- Với mọi kích thước diện tích thiết kế có thể chia ra theo nhiều tỷ lệ nhằm gây chú ý, sức hút khác biệt nhau.
- Các đường nét, bóng chìm, hình khối, chất liệu, màu sắc tạo nên tiêu điểm giúp mắt phản ứng khác nhau tùy thuộc vị trí của chúng tong mẫu thiết kế.
4. Sự trang nhã:
- Yếu tố truyền thống, văn hóa, xã hội.
- tính chân phương, mỹ thuật.
5. Sự hài hòa:
Hai mặt:
- Tính đồng nhất trong các motif, các thàn phần thiếtk ế.
- Tính cân bằng các thành phần thiết kế phải hài hòa về hình dáng và màu sắc.
6. Nhịp điệu:
- cần đạt được “tính đồng nhất trong đa dạng”: nét vẽ, đường nét, hình khối đa dạng nhưng có thể thay thế cho nhau, mạnh mẽ, sinh động.
- Khuôn dáng, tỷ lệ đưa ra hình thành một cách tự nhiên.
7. Phong phú:
- Tư tưởng độc đáo.
- Hình thức sáng tạo.
Các phương pháp thể hiện.
Thướng kết hợp các hướng chủ yếu sau:
- Trình bày nguyên dạng tên chữ của biểu tượng.
- Giản ước tên chữ thành một tổ hợp chữ cái.
- Sử dụng hình ảnh sản phẩm.
- Dùng một hình ảnh và một dấu hiệu.
1. Sử dụng hình thức nguyên dạng tên chữ:
Thường tạo cho mẫu chữ một dáng vẻ đặc biệt gợi những liên tưởng sâu xa về tính chất công ty, đơn vị mà nó đại diện.
Ví dụ:

Bằng mấy nét nhấn ở đầu N trong hàng chữ SANYO giúp tiềm ẩn một nguồn năng lực nội, lại liên tưởng tốt đẹp về đồ diện.
2. Hình thức tổ hợp các chữ cái hoặc dùng chữ cái đầu của tên công ty, tổ chức:
- Bản thân đã mang tính giản ước rõ rệt.
- Bố cục thường dễ đạt hiệu quả.
- Hình ảnh phải được cách điệu cao.
- Tái tạo lại một hình ảnh mới của sản phẩm tránh sự nhàm chán.
Ví dụ:
Pepsi Cola + Hình dáng chiếc nắp chai được cách điệp thành một hình tròn đỏ – xanh vói sọc trắng hình làn sóng nằm giữa, liên tưởng đến sự ngọt ngào, cảm giác thỏa mái, thú vị tận hưởng.
3. Mượn một ẩn dụ và một ký hiệu nào đó:
- Nói lên bản chất của đối tượng.
- Đòi hỏi:
+ Trí tưởng tượng.
+ Kiến thức rộng.
+ Những suy nghĩ tiềm tàng.
+ Những liên tưởng sắc sảo.
Ví dụ:

Logo của hãng dầu Shell, hình cong con sò ản dụ về nguồn năng lượng thiên nhiên cồ xưa và vĩnh cửu (nguồn gốc dầu mỏ là do động thực vật sau những biến động của trái đất bị vùi sau dưới các tảng địa chất, bị phân hủy bởi cảc khuẩn môi trường yếm khí mà ra sự liên tưởng về các lớp trầm tích của vỏ đất, nơi khai thác ra dầu mỏ.
Các yếu tố thành phần (hình tượng).
- Thường được vẽ cùng với tên công ty và tổ chức Logo đó.
- Tên gọi của logo, xuất xứ tác phẩm, phân biệt sản phẩm của công ty này, hình ảnh nào khác.
- Có khi được thiết kế bằng chính tên gọi của logo mà không cần sử dụng hình ảnh nào khác.
- Phải được tạo hình một cách thật đặc biệt, không lẫn lộn với MARK, sản phẩm khác của công ty.
- Mang đầy đủ tính chất thông tin, bản chất hoạt động của công ty, các mục tiêu thương mại.
- Bao gồm những mẫu thích hợp thể hiện ý đồ thông điệp một cách hợp lý và minh bạch.
A/ Kiểu chữ, tên gọi sử dụng trong Logo:
1. Kiểu chữ:
- Mang ý nghĩa về tạo hình, tính chất thông tin.
- Được quan niệm như một hình tưởng như bất cứ hình tượng nào khác.
- Mỗi kiểu chữ không chỉ đơn thuần mang những từ ngữ của thông đệip mà nó nâng cao còn hỗ trợ cho hình ảnh sản phẩm nó đại diện.
- Chữ cái có thể lấy từ các kiểu chữ Roman, San Serif hay Script.
- Có thể chuyển hóa sang dạng trừu tượng, tạo ấn tượng thể hiện.
- Tạo được sự hấp dẫn bằng cách pha màu, tạo hạt tram bằng máy vi tính, tạo dáng, tạo kiểu.
- Các nhà thiết kế phải nắm được các kiểu chữ, khảo sát các phong cách chữ khác nhau trước khi đi đến quyết định cuối cùng.
- Những yếu tố quan trọng:
+ Tính dễ đọc.
+ Khoảng cách chữ.
+ Sự thích ứng, ngữ nghĩa phải phù hợp với hình thức của bản thân chữ nhằm mục đích đạt được ý đồ sáng tạo ý nghĩa trong cách trình bày chữ.
- Bảo đảm trong việc chọn kiểu chữ, phong cách chữ:
+ Hình thức của chữ nằm trong sự phối hợp hài hòa giữa các nét bản, nét phụ, nét trang trí của từng loại chữ, kiểu chữ.
+ Kích cỡ, bề dày không quá năng nề.
+ Không quá vô nghĩa
+ Rõ ràng và không hỗn độn.
- Ngoài các kiểu chữ thông thường, các kiểu chữ hoa văn, uốn lượn, kiểu chữ viết tay đều có thể sự dụng được (có thể mang tính trừu tượng), đưa vào hình ảnh đồ họa tao nên một logo, ký hiệu trừu tượng, cuốn hút.
+ Logo của công ty kim hoàn –> sử dụng kiểu chữ nhỏ nét và trang trí –> Phản ánh vẻ đẹp của đồ trang sức.
+ Logo một công ty xây dựng – sử dụng nét chữ cứng và to hơn.
+ Các công ty, đơn vị không có tính chất sắc nét như vậy, tìm một kiểu chữ giống với tính chất và sắc điệu của sản phẩm.
- Chữ:
+ Có thể chỉ là những con số.
+ Là một chữ.
+ Một sự tập họp của hai, ba hoặc bốn chữ cái.
+ Của cả một tên chữ.
- Đòi hỏi:
+ Phải có sự cách điệu trên bản thân hình chữ làm cho khác đi với các dạng kiểu chữ trong các Mark sản phẩm khác.
+ Tạo cho bản thân chữ (yếu tố quan trọng) trở thành có nghĩa.
Ví dụ minh họa:

Logo AQUEDUCT của trường đua ngụa với dáng chữ A rất đẹp nó là sự vững chãi của dáng chữ SANS SERIF kết hợp với sự năng động khẩn trương của chữ nghiêng, đầu chú ngựa kéo dài thêm ấn tượng tộc độ, mạnh mẽ lôi cuốn người xem vào cuộc đua hào hứng.
2. Tên gọi:
Một công ty thường có tên:
- Thương mại: là tên mà một công ty mang để kinh doanh.
- Tên giao dịch: là tên công ty sử dụng khi giao dịch với các công ty và tổ chức khác thường được thiết kế, sử dụng làm tên gọi của logo bởi tính chất:
+ Đơn giản.
+ Quốc tế hóa.
+ Tạo sự phân biệt cao.
+ Thuận lợi trong kinh doanh, in ấn, quảng cáo.
Những yêu cầu cơ bản nhất để tạo nên một tên gọi thật hiệu quả cho logo là :
a. Quốc tế hóa:
- Một tên gọi nếu không được quốc tế hóa thì sản phẩm khó tiêu thụ được trên thị trường thế giới.
Ví dụ: Người nước ngoài sẽ khó nhớ hoặc đọc một cách trôi chảy tên công ty sữa Việt Nam, nên quốc gia hóa thành VINAMILK – Ngắn gọn, dễ hiểu.
- Một cái tên tuy đã mang tính quốc tế hóa nhưng tên gọi vẫn quá dài thường rút ngắn lại bằng cách tổ hợp các chữ cái đầu.
Ví dụ: Coca Cola – COKE.
- Khi tổ hợp một tên gọi tạo hình cho chính bản thân chữ để mang những sắc thái mới, những dáng vẻ mới mang đầy đủ ý nghĩa của tên gọi mà nó tổ hợp lại.
b. Âm thanh
- Tên gọi trong logo về âm thanh lúc đọc không gây sự nhầm lẫn và trùng lặp với mặt ngữ nghĩa.
Ví dụ: Giày Biti’s với giày Bita’s – dễ nghe lẫn khi đọc tên.
- Khi phát âm thường không nên quá bốn âm, hai ba âm là tốt nhất, mỗi âm đọc lên phải dễ dàng. Tạo một sự liên tưởng tích cực.
- Không được đồng âm với những từ địa phương khi phát âm mang một nghĩa xấu.
c. Ý nghĩa.
- Tên gọi không bao hàm nghĩa xấu khi ở trong nước và ra nước ngoài.
Phải tránh không bị “chơi chữ” thành một nghĩa xấu, không bị gây khó chịu ở nước ngoài.
B/ Những hình tượng thường sử dụng.
1. Các hình khối:
a. Hình khối lập phương:
- Là 1 hình khối mạnh mẽ, cân bằng.
- Đối với người Á Đông tượng trưng cho “đất”.
- Được sử dụng nhiều trong việc tạo dựng hình tượng logo bởi ấn tượng – sự liên tưởng, tính dễ tạo hình do nó đem lại.
b. HÌnh khối chữ nhật:
- Tính cân bằng nên thường được sử dụng để tạo cảm giác về sự cân xứng.
c. Hình khối tam giác:
- Là một hình vững vàng.
- Có thể dùng để tạo nên một loạt các hình khối như núi non, lều, tòa nhà hình chữ A.
- Nói lên tính năng phát triển thông qua ý nghĩa định hướng mạnh mẽ của nó.
- Những hình tam giác liên kết trong một logo tạo được ấn tượng mạnh mẽ về hiệu quả thẩm mỹ, hiệu quả về mặt thông tin.
d. Hình khối cầu.
e. HÌnh tượng mặt trời.
- Sử dụng khá nhiều trong logo.
- Hình ảnh mặt trời vừa gần gũi, thân quên với con người.
- Ý nghĩa thần linh. Cội nguồn của sự sống, sự bất tự, vĩnh hằng, hủy hoại, tái sinh.
- Theo cách nhìn khái quát phổ thông – mặt trời, hình tròn.
- Ấn tượng, huy hoàng, rực rỡ.
- Cảm giác ấm áp, thành công, chiến thắng.
- Nói lên tính ưu việt, năng động, sự gợi cảm, luôn tạo được sự tin tưởng về nó.
- Hình mặt trời trong logo:
+ Mang tính giản dị, sâu sắc.
+ Một vẻ đẹp lung linh.
+ Khơi dậy nhiều liên tưởng thú vị.
f. Ngôi sao:
- HÌnh tượng đáng yêu nhất và thưởng được sử dụng.
- Yếu tố lãng mạn tạo cảm giác lung linh, bay bổng.
- Kết hợp những hình tam giác mà đỉnh nằm trong một vòng tròn.
- Vừa mang tính ổn định, không ổn định tạo cảm giác bền vững, xu hướng phát triển
- Cho chúng ta một khát vọng hướng đến tương lai, hướng đến những gì tốt đẹp nhất.
g. Chữ thập:
- Một hình tượng rất lâu đời.
- Nhiều ý nghĩa:
+ Làm một trong bốn biểu tượng cơ bản (ba biểu tượng kia là: trung tâm, vòng tròn, hình vuông).
+ Là biểu tượng tổng hợp của tất cả các biểu tượng.
- Trong cuộc sống chữ thập là nền tảng cho tất cả các hình tượng định hướng về không gian và thời gian:
+ Có mặt trên các ký hiệu giao thông để chỉ một ngã tư, giao lộ.
+ Có mặt trên bản đồ chỉ những bệnh viện, có mặt trong nghĩa trang – chỉ đạo giáo của người nằm dưới mộ
- Hình tượng chữ thập đỏ – Một hình tượng nổi tiếng, nhiều người biết đến, xuất hiện đầu tiên năm 1759. Biểu trưng của hội chữ thập đỏ quốc tế.

- Tượng trưng cho hệ thống nhân đạo quốc tế.
- Chữ T hoa, bản thân là hình tượng chữ thập tự giá không đỉnh.
- Một ngôi sao bốn cánh là một dáng của hình chữ thập.
- Dấu + là một hình tượng chữ thập. Hình ảnh của một sự gia tăng + một điện cực + một sự cân bằng + đối kháng của hoạt động + nghỉ ngơi.
- Đôi khi được thiết kế dưới dạng học đơn giản. Chữ thập có phân nhánh, hình lá.
- Có nhiều ý nghĩa tiềm ẩn bên trong. Thúc đẩy người ta khám phá, tưởng tượng.
- Sử dụng nhiều trong logo các công ty, xí nghiệp, dược phẩm, y tế, bệnh viện.
h. Con người:
- Trung tâm của vũ trụ, vẻ đẹp, những gì tinh tế nhất hoàn hảo nhất của tạo hóa.
- Chủ thể của muôn loài trên trái đất – tượng trưng cho những gì ưu việt nhất.
- Luôn tự hoàn thiện mình, vươn tới cái đẹp, khám phá những chân trời mới.
- Sử dụng trong các logo thể dục thể thao, các tổ chức xã hội, các hàng thời trang.
- Từ hình ảnh con người – Tạo ra những hình tượng dựa trên khuôn mặt, con mắt, bàn tay con người.
+ HÌnh tượng gương mặt – Sáng tạo phong phú về tạo hình, chất lãng mạn, sự dí dỏm của họa sĩ, thể hiện mọi sắc thái tình cảm của con người.
+ Hình ảnh con mắt – Gây ấn tượng mạnh – bản thân hình tượng đã là “một cái nhìn” đẩy hình ảnh, gây sự chú ý người tiêu dùng.
+ Hình tượng bàn tay – Mang tính chất tạo hình đẹp – bàn tay. Một trong những chủ thể chính của hoạt động con người. Tạo cảm giác tin cậy, sự hỗ trợ, sự liên kết, sự khéo léo của sản phẩm do con người tạo ra.
i. Hình ảnh loài vật:
- Mỗi loài vật để có những điểm mà tạo hóa dành cho chúng.
- Thông qua hình ảnh, tính chất của mọi loài vật. Tạo cho logo một hình tu7o5ng có nghĩa ẩn dụ cao và mang tính so sánh đầy hàm súc.
- Có thể lấy từ các con vật trong thần thoại hay trong tính cách ưu việt, đặc trưng nhất của con vật.
j. Chim:
- Thường thấy trong thiết kế logo.
- Luôn là sự khát khao vươn tới những gì tốt đẹp nhất.
- Là ước mơ bay bổng, chinh phục không gian của con người.
- Là niềm tin về cuộc sống, sự tự do, ước mơ về hạnh phúc tượng trưng về sự khát khao về hòa bình, một sự chung sống trong thế giới mà mỗi người là anh em.
k. Cây cỏ, hoa lá:

- Hình tượng dễ cách điệu nhất.
- Tạo cảm giác thanh bình. Tượng trưng sự xanh tươi, sức sống tràn đầy.
- Hình tượng một bông hoa – Cảm giác sự toàn vẹn, sự hoàn hảo của sự vật – Tương trưng cho cái đẹp, những gì tinh tế nhất.
- Hình tượng bông lúa – Liên tưởng về no ấm, hòa bình, hạnh phúc – Những gì thịnh vượng, phát triển nhất.
l. Hình tượng mũi tên:
- Một trong những hình tượng mang ý nghĩa tượng trưng cao nhất.
- Một trong những dấu hiệu được sử dụng nhiều nhất trong cuộc sống.
- Luôn tạo cảm giác về sự vươn tới, sự chinh phục. Thúc giục chúng ta luôn hướng về phía trước, tương lai, chỉ ra cái đích cần đến. Đồng nghĩa với sự phát triển.
m. Hình tượng trong các tác phẩm nghệ thuật khác:
- Đòi hỏi họa sĩ phải có sự khéo léo, sự tinh tế, óc liên tưởng sắc sảo. Tạo ra những hình tượng mới đơn giản mà vẫn không mất đi hình tượng nguyên thuỷ của nó trong tác phẩm nghệ thuật.
- Tạo sự phong cách cho logo, làm cho nó đẹp hơn, ý tưởng sâu sắc hơn, tình cảm hơn.
n. Các hình tượng khác:
- Như làn sóng, tia chớp, trái tim, dụng cụ âm nhạc, đồ vật, vật dụng, cái khiên, bóng hình…
o. Các hình dạng, các dạng kiểu chữ, một tổ hợpp của những chữ cái hoặc các con số:
- Chỉ trong logo mới sử dụng làm hình tượng.
- Bản thân đã mang tính giản ước rõ rệt.
Như đã đề cập ở phần “Các hệ thống phân loại màu”, có 3 giá trị cần thiết để xác định màu một cách rõ ràng. Các phép đo màu mô tả các giá trị này được xác định như thế nào và chúng liên hệ với nhau ra sao? Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết là các màu này phải có thể đo được. Vì thế, việc đo màu và các phép đo màu liên hệ qua lại một cách trực tiếp.
4.1 Đo màu.
Các màu được đo bằng phương pháp kích thích 3 giá trị màu giống như cảm nhận của mắt người hoặc đo phổ phản xạ.
Về nguyên tắc, cấu tạo của các thiết bị đo màu phải tuân theo phương thức tương tự mắt người nhìn màu. (Xem hình).
Mực (mẫu đo) được chiếu sáng bởi một nguồn sáng phát xạ. Một phần ánh sáng chiếu tới bị mẫu đo hấp thụ và phần còn lại phản xạ. Ánh sáng phạn xạ được mắt người thu nhậ. Khi ánh sáng chiếu tới mắt, các tể bào hình nón nhạy với các màu Red, Green, Blue bị kích thích và được các tế bào thần kinh thị giác chuyển tín hiệu kích thích tới não bộ cho phép cảm nhận màu.
Tíến trình cảm nhận màu tự nhiên này được mô phỏng lại trong các thiết bị đo. Trong quá trình đo ánh sáng được chịếu tới mẫu đo. Ánh sáng phản xạ đi qua một hệ thống ống kinh và tới bộ cảm biến, bộ cảm biến này dùng để đo cường độ ánh sáng của mỗi màu và chuyển tín hiệu cảm nhận được cho một máy tính. Tại đó, các tín hiệu này được đối chiếu với giá trị cảm nhận tương ứng của 3 loại tế bào hình nón trong mắt người được xác định theo chuẩn quan sát của CIE. Kết quả nhận được là các giá trị kích thích X, Y và Z. Sau cùng, các giá trị này được chuyển đổi thành các độ màu hay các toạ độ của các không gian màu khác (thí dụ như CIE LAB hay CIE LUV).

4.2 Các giá trị kích thích 3 thành phần/ Điểm trắng tham chiếu
Trong đo màu, việc xác định các giá trị kích thích 3 thành phần từ các vật phản xạ hoặc phát xạ đòi hỏi những điều kiện phải được chuẩn hoá trước. Hầu hết các điều kiện được chuẩn hóa này được nhà sản xuất thiết bị đo dự kiến cố ý để người sử dụng đừng quan tâm xa hơn nữa.
Tuy nhiên, trong phép đo màu của vật thể có 3 yếu tố thướng thay đổi và phải được người sử dụng điểu chỉnh, đó là: điểm trắng tham chiếu, loại ánh sáng và người (chủ thể) quan sát.
Thông thường, các gía trị đo màu liên quan tới độ trắng tuyệt đối. Vì thế, việc cân chỉnh chính là cân chỉnh các đơn vị đo lần lượt theo một độ trắng tuyệt đối tho lý thuyết. Ngược với phép đo mật độ, giấy chỉ được dùnng như điểm trắng tham chiếu trong những trường hợp ngoại lệ.
4.3 Các điều kiện chiếu sáng chuẩn.
Không có ánh sáng – không có màu sắc. Nhưng điều này cũng có nghĩa loại ánh sáng đó ảnh hưởng đến việc cảm nhận màu của chúng ta. Màu sắc của ánh sáng đựơc xác định bởi thành phần quang phổ của nó.
Trong tự nhiên, ánh sáng mặt trời, tùy theo thời tiết cũng như mùa và từng thời điểm torng ngày đều có ảnh hưởng đến thánh phần quang phổ ánh sáng. Các nhà đạo diễn phim hoặc nhiếp ảnh gia thường phải đợi một thời gian dài cho đến khi điều kiện chiếu sáng đạt đựơc như ý họ.
Hơn nữa, có sự khác biệt trong thành phần quang phổ của đèn chiếu sáng nhân tạo. Một vài lọai đèn tạo ra ánh sáng hơi ngả sang đỏ trong khi loại đèn khác toả ra ánh sáng hơi ngả sang lục hoặc xanh nhạt.
Sự phản xạ phổ và cảm nhận màu thay đổi tuỳ thuộc vào điều kiện chiếu sáng. Do đó, việc xác định các giá trị kích thích 3 thành phần phải dựa trên cơ sở ánh sáng chuẩn.

Theo tiêu chuẩn, sự phấn bố cường độ sáng cho các loại ánh sáng khác nhau nằm trong khoảng giữa 380 và 780 nm (cách nhau từng khoảng 5 nm). Hình minh họa ở trên cho thấy sự phân bố cho các nguồn chiếu sáng chuẩn A, C, D50 và D65.
Các nguồn chiếu sáng chuẩn C, D50 và D65 tương đồng như áng sáng trung bình ban ngày với cường độ bức xạ cao nhất ở vùng màu tím. Hình minh hoạ tiếp theo cho thấy thành phần của nguồn sáng D65. Một nguồn chiếu sáng chuẩn A có cường độ đỉnh (cường độ cao nhất) nằm trong vùng màu Red thì nó ngả đỏ (ánh sáng buổi chiều và đèn điện).

4.4 Người quan sát chuẩn. Các đường cong phối hợp màu.
Mỗi người có 3 đường cong phối hợp màu để ước lượng các màu Reb, Green và Blue. Đối với những người nhìn màu bìnhthường thì các đường cong này hầu như giống nhau. Vì thế, các màu chỉ được cảm nhận khác nhau tại các vùng biên. Thí dụ, vẫn có những màu được người này cảm nhận là xanh ngả lục, nhưng người khác lại cho là lục ngả xanh. Đó là lý do tại sao, đối với việc đo màu, cần thiết phải định
nghĩa một cá nhân với cảm nhận về màu bình thường được xem như là:” người quan sát chuẩn”. Một loạt các cuộc thử nghiệm toàn diện với một số lượng lớn cho những người nhìn màu bình thường được tiến hành vào năm 1931. Trên cơ sở thử nghiệm này, các đườong con phối hợp màu x, y và z được xác định và trở thành các tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế như DIN 5033 và ISO/ DC 12 647.

Việc nghiên cứu được tiến hành cho người quan sát ở góc 20. Góc quan sát trong bối cảnh các tiêu chuẩn của phép đo màu là góc nhìn vào một vùng màu có đường kính 3,5 cm được quan sát ở khoảng cách 1m thì góc nhìn màu chính xác là 20.
Năm 1964, cuộc thử nghiệm tươong tự đã được lặp lại nhưng với góc quan sát 100, và cũng như trước, các kết quả được trở thành tiêu chuẩn bổ sung. Người ta còn gọi góc quan sát 100 là “người quan sát chuẩn 1964”.

4.5 Đo màu bằng máy đo phổ.
Các giá trị màu tiêu chuẩn được tính từ đường con bức xạ của nguồn ánh sáng S() cũng như là các đường cong phối hợp màu x (), y() và z() của chuẩn quan sát.
Dấu để giữa 2 dấu ngoặc đơn cho thấy rằng việc tính toán phụ thuộc vào bước sóng của ánh sáng của ánh sáng (vd: trong bước sóng giữa khoảng 400 – 700 nm, cách khoảng 5m). Trong bước đầu tiên của viẹc tính toán, các giá trị của hàm bức xạ của nguồn chiếu sáng chuẩn S() được nhân với giá trị phổ phản xạ () của mẫu đo cho mỗi bước sóng. Kết quả là có đường cong mới – đường cong kích thích màu ().
Ở bước thứ hai, các giá trị từ đường cong kích thích màu được nhân với các giá trị từ đường cong phối hợp màu x (), y() và z(). Kết quả cho 3 đường cong mới.
Cuối cùng, bằng phép tính tích phân và nhân với các thông số được chuẩn hóa, các giá trị kích thích 3 thành phần X, Y, Z được tính từ các vùng nằm trong đường cong bằng phép tích phân khiến nó có khả năng mô tả màu đó một cách chính xác.

Khoảng sai biệt màu là phép đo khoảng cách giữa hai vị trí màu trong không gian màu (thí dụ giữa màu trên bài mẫu và màu trên tờ in).
Không gian màu CIE đã được giải thích trong chương “Các hệ thống phân loại màu”. Nhưng không gian màu này có một nhược điểm chủ yếu, đó là: không phải tất cả các màu được cảm nhận bởi mắt người tại các vị trí khác nhau đều có độ khác biệt tương ứng với việc cảm nhận.
MacAdam, một người Mỹ đã nghiên cứu sự kiện này trong một loạt các thử nghiệm. Ông đã phân tích và minh họa các kết quả theo hình sau. Hình vẽ cho thấy cái gọi là hình elip MacAdam được phóng đại gấp 10 lần. Vì không gian màu CIE là không gian màu 3 chiều nên hình elip thực sự là các khối elip. Kích thước của các khối elip này là một sự đo dạc từ ngưỡng cảm nhận của các độ lệch màu (mỗi khối elip được nhìn từ tâm và cho từng tông màu riêng biệt).

Hệ thống này không được sử dụng trong thực tế để ước lượng khoảng sai biệt màu vì nó ngụ ý rằng các dung sai có thể chấp nhận được đều khác nhau giữa các tông màu. Để việc tính toán khoảng sai biệt màu đáng tin cậy hơn, cần phải có một không gian màu, trong đó những sự khácbiệt về màu được cảm nhận như nhau đều có cùng một trị số như nhau. CIE LAB và CIE LUV là hai hệ thống có ưu điểm như thế. Chúg được phát triển bằng cách chuyển đổi toán học từ không gian màu CIE.
Thông quaa sự chuyển đổi này, các khối elip MacAdam với các kích thước khác nhau được ánh xạ lên các khối cầu có kích thước giống như nhau. Bằng cách này, mắt người cảm nhận sự sai biệt màu cho tất cả các màu như nhau.
Vào năm 1976, các không gian màu CIE LAB và CIE LUV – các không gian màu sử dụng thông dụng nhất trong ngành in được tiêu chuẩn hoá quốc tế.

Hình minh họa cho thấy các vị trí của trục a* và b* của không gian màu CIE LAV trong bàng màu xy.
Các không gian màu khác như hệ thống CMC và không gian màu Munsell cũng được sử dụng tại Mỹ.
4.6.1 Không gian màu CIE LAB.

Không gian màu CIE LAB được sựng dụng nhiều nhất cho việc đo omàu vật thể (mực in), thí dụ, để pha một công thức mực hay kiểm tra chất lượng in. Các tông màu và độ bão hòa màu được vẽ trên các trục a* và b*. Trục a chạy từ -a* (Green) đến +a*(Red) và trục b chạy từ -b*(Blue) đến +b*(Yellow). Trục độ sáng L* có giá trị từ 0 (đen ở đáy) đến 100 (trắng ở đỉnh).

Hình minh họa trên chỉ không gian màu CIE LAB dùng để đo màu các vật thể. Vì nó là kết quả của quá trình chuyển đổi nên hình dạng của nó khác với không gian màu CIE. Cũng vậy, hình dạng của mỗi giá trị độ sáng thay đổi với L*.
Trong hình minh hoạ mặt cắt ngang không gian màu CIE LAB cho thấy các màu của vật thể có giá trị độ sáng L*=50. Vùng màu Green được thu hẹp lại và vùng màu Blue được thấy rõ hơn.

Đối với những người sử dụng trong thực tế, gỉn đồ này rất cần thiiết.

L* = 75.3 có nghĩa là một màu sáng nằm giữa và đỏ cờ có giá trị a*=51.2 và b*=48.4. Vì lẽ đó, ta có thể đoán đây là một màu cam sáng.
Kết quả:
Màu tham chiếu và màu đo có vị trí khác nhau trên không gian màu nên màu của chúng khác nhau.
*Màu tham chiếu:
LÀ MÀU ĐƯỢC CHỌN ĐỂ LÀM CHUẨN HAY MÀU CẦN PHẢI PHỤC CHẾ LẠI.

Sự khác biệt về vị trí màu có thể được phân loại như sau:

Vì việc chuyển đổi không tuyến tính nên các quy luật của không gian màu CIE khôg áp dụng được cho không gian màu CIE LAB.
4.6.2 Không gian màu CIE LUV.

Không gian màu CIE LUV cũng được tạo thành qua sự chuyển đổi từ không gian màu CIE nhưng sử dụng công thức chuyển đổi khác. Ba trục toạ độ được xác định bởi các giá trị L*, u* và v*.
Vì không gian màu CIE LUV và CIE LAB là kết quả của sự chuyển đổi khác nhau nên chúng có hình dạng khác nhau. Cả hai không gian này để được dùng để đo màu vật thể (xem hình minh hoạ).

Hình minh hoạ cho thấy, mặt cắt ngang qua không gian màu CIE LUV cho các màu của vật thể có độ sáng L*= 50 (xem Chương 4.6.1). Vùng màu Green trên không gian màu CIE LUV được định vị gần tâm hơn so với không gian màu CIE LAB, hơn nữa, vùng màu Blue rộng hơn.
Không gian màu CIE LUV thường được dùng cho việc đánh giá màu trên màn hình (thí dụ như trên máy quét hay máy tính). Ưu điểm của nó là có sự chuyển đổi tuyến tính để tất cả các tính cân đối của không gian màu CIE được giữ nguyên không đổi (khác với không gian màu CIE LAB).
4.6.3 Không gian màu CIE LCH.
Thuật ngữ CIE LCH được sử dụng khi toạ độ cực C (khoảng cách so với tâm) và góc tông màu h được dùng thay cho các trục toạ độ Cartesian a, b hay u, v trong không gian màu CIE LAB hay CIE LUV. Không gian màu CIE LCH là không gian màu bổ sung.

Đối với không gian màu CIE LUV việc tính toán cũng tương tự.
Dưới đây là sự mô tả sơ lược với giá trị màu đo giống như vị trí màu trong Chương 4.6.1.

4.6.4 Hệ CMC[B/]
CMC là một cách ước lượng sự khác biệt vị trí màu trên không gian màu CIE LAB, được phát triển tại Anh năm 1988 bởi Ủy ban Đo Đạc Màu Sắc của Hiệp Hội Các Nhà Chế Tạo Màu và Thuốc Nhuộm. Nó không mô tả sự cảm nhận khác biệt màu (như CIE LAB hay CIE LUV).
Thông thường sự thay đổi màu gần trục độ sáng được cảm nhận nhiền hơn sự thay đổi về độ bão hoà màu. Hơn nữa, sự khác biệt độ bão hòa màu dễ dàng được chấp nhận hơn là góc tông màu.
Hình vẽ cho thấy nguyên lý đánh giá màu CMC cho các vị trí màu khác nhau trong không gian màu CIE LAB. Mỗi hình elip chỉ ra các vị trí với sự khác biệt màu không đổi phù hợp với công thức CMC. Ta có thể thấy rõ ràng là các hình elip ( khoảng dung sai trong không gian màu CMC) trong vùng không gian màu nhỏ hơn so với hình elip tại vùng có độ bão hoà cao. Thêm vào đó hình dạng của chúng được thiết lập sao cho góc tông màu nhỏ hơn ở độ bão hòa màu. Các hình elip cũng có khả năng được điều chỉnh riêng rẽ giữa sự khác biệt độ sáng và tông màu. Sự điều chỉnh này được thực hiện bởi hai hệ số l và c (l là hệ số đo độ sáng và c là hệ số đo lường tông màu thường = 1). Ngành công nghiệp dệt thường dùng tỷ lệ l: c = 2 : 1. điều này có nghĩa là sự biến đổi gấp đối về độ sáng sẽ được chấp nhận như độ biến đổi về tông màu.
Tỷ lệ này có thể đáp ứng được các nhu cầu ứng dụng đang được bàn luận. Vì vậy các giá trị về sự khác biệt vị trí màu có ý nghĩa và có thể so sánh được chỉ trong mối liên hệ với các hệ số đo lường.



Munsell đã phát triển một hệ thống phân loại màu với khoảng cách về sự khác biệt màu đều nhau vào năm 1905. Trong hệ thống này các màu được sắp xếp theo tông màu, độ sáng và độ bão hòa màu. Các tông màu cơ bản là Red, Yellow, Green, Blue và Purple (đỏ tía). Hệ thống được phát hành vào năm 1915 dưới dạng “Sách màu Munsell” cho 40 tông màu, ánh sáng loại C và mẫu in trên giấy sáng và bóng mờ.
Năm tông màu cơ bản lại được chia nhỏ ra thành 100 tông, mỗi tông có 16 độ bão hòa màu và 10 mức độ sáng. Hình minh hoạ cho thấy một mặt cắt 40 tông màu. Kết quả cho ra một không gian màu không bình thường, vì đối với một số màu và giá trị độ sáng không bao trùm tất cả mọi vùng đo màu.

Tọa độ màu Munsell không thể chuyển sang tọa độ màu CIE.
Các hệ thống phân loại màu sau này là các thẻ màu DIN (DIN 6164). Hệ màu tự nhiên NCS, hệ màu của Hiệp Hội Quang Học Hoa Kỳ OSA và hệ màu thiết kế RAL (RAL – DS).
4.8 Phương pháp kích thích ba thành phần màu.
Cấu tạo của các máy đo kích thích 3 thành phần màu giống với cấu tạo của máy đo mật độ. Thay vì dùng 3 kính lọc màu Red, Green, Blue và kính lọc thị giác để lọc màu đen như máy đo mật độ người ta phối hợp nhiều kính lọc để mô phỏng 3 đường cong phối hợp màu x, y, z.
Tuy nhiên các máy đo màu theo phương pháp kích thích 3 thành phần màu có độ chính xác tuyệt đối thấp hơn máy đo phổ vì các đường cong phối hợp màu có thể được mô phỏng chính xác hay không còn tùy thuộc vào sự chiếu sáng chuẩn. Tuy nhiên, chúng thích hợp cho việc đánh giá sự sai biệt màu vì trong trường hợp này các giá trị tuyệt đối không cần thiết phải có độ chính xác.
Thêm vào đó, các thiết bị dùng để chế tạo máy đo theo phương pháp kích thích 3 thành phần rẻ hơn nhiều so với máy đo phổ.
Vùng đo được chiếu sáng với đèn có các thành phần quang phổ giống như ánh sáng chuẩn. trong ví dụ dưới đây của chúng ta, mày Cyan đang được đo.
Phổ phản xạ được đo bằng việc phối trộn 3 kính lọc khác nhau và giá trị kích thích X đượoc đo với kính lọc Red, Y với kính lọc Green và Z với kính lọc Blue.
Sau khi đo các giá trị kích thích có thể được chuyển đổi sang không gian màu (CIE LAB hay CIE LUV) để có thể đánh giá sự khác biệt màu.

Trong tiến trình đo màu phổ toàn bộ quang phổ thấy được từ 380 đến 780nm đều được đo. Ánh sáng phản xạ từ lớp mực in được tách thành phần phổ bằng một thiết bị nhiễu xạ và được đo bằng một loạt các bộ cảm biến.
Tuỳ thuộc vào độ chính xác yêu cầu mà sự đồng nhất của ánh sáng chiếu tới được đo theo từng khoảng 1nm, 5nm hay 10 nm. Các giá trị kích thích X, Y, Z được tính từ các phổ phản xạ được đo. Để tính toán, các đường cong phối hợp màu sẽ được lưu trong máy tính. Vì những đường cong này được mô phỏng bởi các kính lọc nên độ chính xác tuyệt đối của máy đo phổ rất cao. Tuy nhiên, chúng đắt hơn nhiều so với các máy đo theo phương pháp kích thích 3 thành phần.
Ngoài độ chính xác tuyệt đối cao, một ưu điểm lớn của phưong pháp đo màu phổ là nó có thể đọc được các giá trị kích thích theo tất cả các loại nguồn sáng và tất cả các chuẩn quan sát nếu các giá trị đo được lưu trong máy tính. Hơn thế nữa chúng có thể tính mật độ màu cho tất cả các tiêu chuẩn kính lọc.
Cho đến nay phương pháp đo phổ đã được áp dụng nhiều trong ngành công nghiệm chế tạo mực in.
Trong quá trình nghiền mực, các nhà sản xuất mực phải tuân thủ nghiêm ngặt theo các mẫu màu cho trước. Điều này rất quan trọng trong trường hợp mực in đã được tiêu chuẩn hóa. Trong những trường hợp như thế các mẫu mực phải được đo bằng máy đo phổ và tỷ lệ phối trộn các loại mực in được tính toán trên máy tính qua chương trình tính toán tỉ lệ mực pha trộn.
Trước đây, trong các nhà in người ta không thể khai thác tối ưu máy đo phổ bởi vì chúng quá đắt và cồng kềnh cũng như không thể sự dụng chúng một cách trực tiếp cho các màu cơ bản. Vì lẽ đó chúng chỉ được sử dụng để đo các màu đặc biệt và kiểm tra nguyên vật liệu (thí dụ giấy và mực in) và người ta đã không quan tâm sử dụng chúng trong việc kiểm soát chất lượng in.
4.10 Nguyên lý đo của bộ phận kiểm tra chất lượng phổ CPC 21 của Heidelberg.
Tại Drupa năm 1990, hãng Heidelberg là nhà sản xuất đầu tiên và duy nhất giới thiệu một bộ phận đo phổ cho máy in offset: CPC 21, bộ phẩn này được nối trực tiếp với các máy in Offset qua bộ phận kiểm tra màu tự động từ xa CPC 1.
Trong quá trình đo, một đầu đo sẽ quét quan dải kiểm tra màu để đo phổ của tất cả các phần tử kiểm tra, các nguồn sáng trên chuẩn A, C, D50 hay D65 và các chuẩn quan sát 1931 và 1964 có thể được sự dụng.
Nguyên lý đo của bộ CPC 21 được mô tả trong hình vẽ dưới đây.

Trước tiên, nguồn sáng được chiếu tới mẫu in qua gương phản xạ hình cầu ở góc tới 45 độ. Ánh sáng phản xạ tại góc 0 độ hướng đến gương chuyển hướng rồi đi qua một sợi cáp quang dẫn sáng từ đầu đo đến máy đo phổ. Tại đó ánh sáng phản xạ từ mẫu đo được tách thành các màu phổ bằng một bộ phận nhiễu xạ ánh sáng hoạt động như một lăg kính.
Các diod quang sẽ đo sự phân bổ bức xạ trên toàn bộ dải quang phổ thấy được (từ 380 đến 730nm) và gởi kết quả đến máy tính theo phé p đo màu. Kết quả đưa ra dưới dạng các giá trị kích thích X, Y, Z và các trục toạ độ màu x, y và Y.
Các giá trị có thể được đoiổ qua các thông gian màu CIE LAB hay CIE LUV. Sau khi các giá trị đo được từ mẫu in được so sánh với các giá trị tham chiếu đã được thiết lập từ trước. (để kiểm tra xem khoảng dung sai E có phù hợp không), các yêu cầu sử đổi sẽ được chuyển quan CPC 21 để nó truyền tính hiệu đến các lô cấp mực của các bộ phận in để chúng tiến hành điều chỉnh ngay lập tức.
Các tờ in thử không qua in thử trên máy in Offset ngày càng được sử dụng nhiều, vì chúng rẻ hơn và có thể tạo ra nhanh hơn các tờ in thử bằng máy in Offest. Có nhiều phương pháp in thử khác nhau, tất cả phương pháp này đều không dùng mực in offset. Tuy nhiên, các chất tạo màu dùng in thử (thí dụ như bột hoặc mực nước) và mực in offset khác nhau về thành phần.
Hãng Heidelberg đã phát triển một dải kiểm tra in thử đặc biệt ( xem hình vẽ dưới).

Dải kiểm tra này có các ô vuông tông nguyên màu Đen, Cyan, Magenta và Yellow, cộng với các ô tầng thứ 70% cho mỗi màu, các ô kiểm tra việc truyền mực và các ô xám gồm có 70% Cyan, 60% Magenta và 60% Vàng. Thêm vào đó còn có các phần tử giao diện giúp cho việc đọc tự động các giá trị tham chiếu trong CPC 21. Khi các phần tử này được bố trí vừa khớp, tất cả các phần tử kiểm tra sẽ được ghi nhận. Trên cơ sở này, các giá trị được đo có thể được lưu trữ như các giá trị tham chiếu.
4.11.2 Các dải kiểm tra màu.
Dải kiểm tra màu cho việc do đặc biệt với CPC 21 cũng được phát triiển bởi hãng Heidelberg và bao gồm các phần tử đo kiểm tra in thử ( ngoại trừ các phần tử giao diện). Thêm vào đó các phần tử đo kiểm tra việc phơi bản cho việc phơi bản chuẩn cũng có sẵn.
Hãng Heidelberg cung cấp 3 dải kiểm tra màu khác nhau: dải kiểm tra in loại 4GS (gồm các ô kiểm tra xám và các ô tông nguyên) cho in 4 màu, dải kiểm tra loại 6GS cho in 5 và 6 màu và dải kiểm tra loại 8GS cho in 7 và 8 màu.
Dữ liệu về các dải kiểm tra màu và kiểm tra in này của các bộ phận đo mật độ cũ hơn loại CPC-21 được lưu trữ trong CPC 21.
Người sử dụng cũng có thể nạp các dải kiểm tra in bổ sung bằng phương pháp thủ công.
4.12 Kiểm soát mực với CPC 21 của Heidelberg
CPC 21 cho phép 3 dạng kiểm tra mực:
- Kiểm soát việc đo màu trên cơ sở các ô xám.
- Kiểm soát việc đo màu trên cơ sở các ô màu tông nguyên hoặc ô tầng thứ.
- Kiểm soát việc đo mật độo trên cơ sở các ô màu tông nguyên và ô tầng thứ.
4.12.1 Kiểm soát màu qua các ô xám.
Như đã đề cập ở chương 2.4, việc cân bằng màu là tiêu chuẩn quyết định đến cảm nhận quang học của một hình ảnh in. Các lỗi về cân bằng màu có thể thấay rõ ràng ở các ô xám. Vì lẽ đó ta có thể sử dụng các ô xám làm cơ sở điều chỉnh phép đo cũng như để kiểm tra và theo dõi tính ổn điịnh của quá trình in. Các phép đo màu thực sự thích hơp cho việc này nên các mực in Cyan, Magenta, Vàng nên được kiểm tra theo phép đo màu trên cơ sở các ô xám (nếu có thể được nên dùng các tông 3/4).
Các tiêu chuẩn trong nhà in lẫn các giá trị từ dải kiểm tra in thử có thể được sử dụng như các giá trị tham chiếu.

Hình trên cho thấy màn hình hiển thị CPC 21. Toạ độ của màu tham chiếu được hiện ra trên mặt phẳng tọa đoộ a-b ở góc bên trái.
Trong ví dụ của chúng ta nó được định vị trí ở tâm tức là nằm trên trục sáng. Vòng tròn lớn ở giữa màn hình cho thấy vùng xung quanh tọa độ màu tham chiếu đượoc phóng lớn. Ba vòng tròn đánh dấu đường biên của 3 khoảng dung sai E gần, trung bình và rộng. Trục độ sáng được đặt gần mép bên phải của màn hình cũng tương ứng với tọa độ màutham chiếu ở đây 3 khoảng dung sai cũng được đánh dấu. Mỗi một dấu thập đánh dấu vị trí của các vùng màu lệch về phía Yellow – Green và sáng hơn.
Nếu sự sai lệch lớn hơn khoảng dung sai E cho phép các bộ phận xử lý sẽ tự động tính toán việc chỉnh sửa cần thiết cho màu Cyan, Magenta và Yellow. Thêm vào việc đo phổ ở ô xám, việc đo phổ ở các ô kiểm tra màu Cyan, Magenta và Yellow cũng như các trị số phổ đọc được của các ô chồng màu tông nguyên cũng được tính toán. Theo cáchnày, tất cả các yếu tố liên quan cũng phải cân nhắc kỹ lưỡng. Việc chỉnh sửa trên máy in sẽ được thực hiện tự động qua bộ phận kiểm soát CPC 1.
4.12.2 Kiểm soát màu với các ô tông nguyên
Việc kiểm tra các màu tông nguyên nói chung thích hợp hơn cho màu đen và các màu đặc biệt.
Màu đen chủ yếu ảnh hưởng đến độ sáng. Vì mắt ngườoi có khuynh hướng nhạy với các biến đoiổ về độ sáng hơn là về màu, màu đen có thể được kiểm tra cơ sở các ô tông nguyên. Kinh nghiệm cho thấy ảnh hưởng của màu đen lên việc cân bằng màu cần thiết phải được lưu ý đến.
Các màu in bổ sung đa số được in riêng biệt và in nền tông nguyên có thể cảm nhận và chỉnh sửa để theo dõi nó trên cơ sở các tông nguyên.
Nhưng ở các ô kiểm tra tông nguyên việc đo phổ và tính toán màu có nhiều ưu điểm hơn so với kiểm tra bằng việc đo mật độ: nó có thể xác định một cách chính xác các tông màu chuẩn có đạt được hay không. Hơn thế nữa các toạ độ màu tham chiếu có thể được nạp vào dưới dạng trị số hay bằng việc đo các mẫu. Điều này không thể thực hiện được bằng việc đo mật độ màu.
Sau lần đo đầu tiên CPC 21 cho biết các toạ độ màu tham chiếu có thể đạt đượoc với mộtm àu mẫu hay không. Nếu không, sự khác biệt toạ độ màu có thể xảy ra E (possible) sẽ được thông báo.

Hình trên cho thấy màn hình của CPC 21 khi kiểm tra các ô tông nguyên. ở phía trên bên trái là tọa độ màu tham chiếu trên mặt phẳng toạ độ a-b, vòng tròn ở giữa màn hình là vùng phóng lớn cho thấy các toạ độ màu tốt nhất sẽ đạt được với dung sai nhỏ nhất E (possible) so với toạ độ màu tham chiếu.
Toạ độ của màu tham chiếu theo lý thuyết được đánh dấu bởi một vòng tròn (Trong thí dụ trên trục Red nằm thẳng góc với trục Yellow).
Nếu có các độ lệch vượt ra ngoài khoảng dung sai cho phép các điều chỉnh cần thiết sẽ được tính toán lại bằng máy tính.
Các số liệu phổ của các ô màu tông nguyên đơn hay các ô màu tầng thứ đơn được dùng để tính toán.
4.12.3 Kiểm soát mật độ tông nguyên
Thêm vào các dữ liệu màu, các máy đo phổ cũng có thể thiết lập các giá trị mật độ cho bất kỳ kính lọc màu nào. Để hỗ trợ cho người sử dụng, bộ phận CPC 21 của Heidelberg cũng cung cấp các giá trị mật độ màu độc lập với các loại hình kiểm tra.
Đặc biệt đối với các lệnh tái bản, các giá trị tham chiếu mật độ màu đã được tính toán rồi thì việc kiểm soát mật độ tông nguyên cũng được sử dụng.
4.13 Các ưu điểm của phép đo màu đối với in offset.
Dưới đây là các tổng kết sau một cuộc thăm dò về các ưu điểm chủ yếu của phép đo màu cho in offset:
• Các số liệu đo gần giống nhất với cảm nhận chủ quan về màu.
• Các phép đo omàu là một kỹ thuật ước lượng màu độc lập với quá trình in từ gian đoạn chế bản qua tất cả các giai đoạn in thử và cuối cùng là kiểm tra chất lượng.
• Các giá trị tham chiếu màu có thể lấy trực tiếp từ mẫu đo.
• Chỉ có các phép đo màu mới có thể điều chỉnh màu một cách khách quan.
• Các phép đo màu có thể kiểm tra màu trong mối liên hệ đến hình ảnh (thí dụ như qua các ô xám) mà không qua các giá trị định chuẩn màu đặc trưng và không cần các giá trị lưu trữ.
• Bằng các phép đo omàu, tất cả các mực in, thậm chí cac 1m2uđặcbiệt rất sáng có thể được kiểm soát chính xác và ổn định.
• Sự gia tăng tầng thứ được phát hiện một cách đáng tin cậy bởi việc đo màu phổ, thậm chí đối với việc sử dụng các loại mực đặc biệt.
• Kiểm soát việc in sản lượng an toàn hơn vì có thể phát hiện được những thay đổi trong vật liệu in, cặn dư trong mực và hiện tượng mê ta.
Trích dẫn từ Vietphotoshop